CÁC HỌC THUYẾT VỀ PHÁP NHÂN

Các học thuyết về pháp nhân có thể phân chia làm ba loại. Một học thuyết chỉ coi pháp nhân là một hư cấu pháp lý.Một số luật gia phủ nhận sự hiện hữu của các pháp nhân trong khi nhiều phái khác chủ trương tính cách thực tại của pháp nhân bằng phương pháp tâm lý xã hội hay bằng kỹ thuật pháp lý.
A. HỌC THUYẾT CỔ ĐIỂN: PHÁP NHÂN LÀ MỘT HƯ CẤU
Học thuyết này đã manh nha trong các học thuyết của phái Giáo pháp ở thời Trung cổ, nhưng mãi tới thế kỷ 19 mới được một luật gia người Đức là Savigny trình bày một cách có hệ thống trong quyển sách: Hệ thống Luật La Mã (1849).
Theo học thuyết này, ngoài những người thường mà người ta gọi là thể nhân, các chủ thể pháp luật khác chỉ là những chủ thể pháp luật giả tạo, do luật pháp tạo ra. Vì vậy pháp nhân chỉ là một hư cấu pháp lý.
Học thuyết hư cấu sẽ đem lại những hệ quả sau:
1) Tất cả các pháp nhân đều do ý chí nhà lập pháp mà có. Nói khác đi, sự tạo lập các pháp nhân phải do luật pháp;
2) Khi quyền lập pháp không muốn để các pháp nhân tồn tại, tất nhiên có thể quyết định hủy bỏ các pháp nhân ấy;
3) Khi pháp nhân bị không còn tồn tại, các tài sản sẽ đương nhiên là những tài sản của Nhà nước như tất cả các tài sản vô chủ khác.
Học thuyết này đã bị chỉ trích quyết liệt từ đầu thế kỷ XX ba phương diện:
1) Về phương diện lịch sử, học thuyết này có tính cách sai lạc vì trong lịch sử đã xuất hiện rất nhiều loại pháp nhân mà không cần tới sự can thiệp của lập pháp. Trái lại, chính quyền Trung ương trong thời Trung cổ, vốn có quyền lập pháp, lại tìm đủ mọi cách để tiêu diệt các pháp nhân vì có hại cho uy quyền của quốc gia;
2) Quan niệm pháp nhân là hư cấu không thể nào áp dụng cho toàn thể các pháp nhân. Đối với các pháp nhân khác, quốc gia còn có thể chủ trương rằng do quyền lập pháp hay quốc gia tạo lập nên, lối lập luận này không thể áp dụng cho chính quốc gia được. Ai đã tạo lập nên quốc gia? Ta có thể nói rằng quốc gia đã tự tạo cho mình tư cách pháp nhân hay không?;
3) Học thuyết hư cấu không phải là một học thuyết hợp lý. Còn cần phải giải thích tại sao cần phải đặt ra hư cấu ấy.
B. CÁC HỌC THUYẾT PHỦ NHẬN PHÁP NHÂN
I) Theo Luật gia Planiol, pháp nhân chỉ là một hình thức để che đậy một quyền sở hữu cộng đồng.
Các cá nhân thường hoạt động theo quyền lợi riêng của từng người, vì họ thường chỉ có quyền sở hữu cá nhân. Nhưng ngoài các trường hợp này, họ cũng có khi hành động cộng đồng như khi họ lập công ty chẳng hạn. Vì muốn cho đơn giản, người ta thường hay nói là công ty có tư cách pháp nhân hay công ty hành động, nhưng sự thực, chính các hội viên hành động với tư cách cộng đồng. Chỉ có các người thường, các thể nhân mới là chủ thể của pháp luật (chủ thể của quyền lợi) nhưng những quyền lợi ấy, họ có thể hành xử theo hai cách: hoặc với danh nghĩa cá nhân hoặc với danh nghĩa cộng đồng.
Tuy nhiên lý thuyết này cũng không thoát khỏi các điều chỉ trích:
1) Học thuyết này đã quên không chú trọng đến một yếu thiết yếu của pháp nhân là yếu tố thời gian. Các pháp nhân có thời gian sinh hoạt lâu hơn các thể nhân, các hội viên của pháp nhân. Có pháp nhân còn tồn tại từ khi thành lập tới giờ nhưng các thành viên sáng lập đã mất từ lâu. Nhiều khi hai quyền lợi của cá nhân hội viên và của chính pháp nhân mâu thuẫn nhau. Trong một công ty chẳng hạn, quyền lợi của các hội viên là chia ngay lấy lãi, nhưng quyền hạn của công ty có khi đòi hỏi sự trích xuất một số lãi khá quan trọng để lưu trữ phòng bị các sự tiêu dùng bất thường.
2) Hơn nữa có những pháp nhân là những pháp nhân phi thương mại, quan niệm về sở hữu cộng đồng không được xác đáng. Vì các pháp nhân này chỉ có tài sản rất nhỏ. Sở dĩ các pháp nhân ấy được thành lập vì mục đích tinh thần hơn là vật chất.
3) Đối với Nhà nước (cũng là một pháp nhân) học thuyết này lại càng vô lý: không thể coi Nhà nước là một quyền sở hữu cộng đồng của toàn thể quốc dân một thời kỳ nào, vì quốc gia tiêu biểu cho những quyền lợi tinh thần, chính trị, xã hội, kinh tế… Trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai.
II. Một học thuyết khác là lý thuyết sản nghiệp sung dụng đã được phát sinh ở Đức.
Lý thuyết này chủ trương quan niệm rằng pháp nhân chỉ được đặt ra để che phủ một sản nghiệp không có chủ thể, một sản nghiệp tự duy trì được mình vì do ở một sự sung dụng (chủ đích) đặc biệt. Vì vậy, gọi là sản nghiệp sung dụng.
Học thuyết này có thể ứng dụng cho các tặng lập là những loại tài sản được dung dụng vào một mục đích nhất định, nhưng không thể ứng dụng lý thuyết này cho các pháp nhân khác (như quốc gia hay các công ty). Những pháp nhân này được quyền hoạch đắc các tài sản ngoài cả giới hạn của mình. Ngoài ra, đối với các tài sản của pháp nhân này không thể chủ trương được là những tài sản ấy không có chủ thể.
C. CÁC HỌC THUYẾT THỪA NHẬN TÍNH CÁCH THỰC SỰ CỦA CÁC PHÁP NHÂN
Thừa nhận tính cách thực sự của pháp nhân, các luật gia đã đi tìm cách giải thích bằng phương pháp tâm lý xã hội hoặc bằng kỹ thuật pháp lý.
I. Học thuyết thừa nhận tính cách thật sự của pháp nhân trên phương diện tâm lý xã hội
Các học thuyết này đã xuất hiện ở Đức vào cuối thể kỷ XIX.
a) Một số học giả chủ trương lý thuyết hữu cơ. Cũng như người thường là một tập hợp các tế bào, các pháp nhân cũng chỉ là một cơ thể, trong đó các tế bào cấu thành, nghĩa là các đoàn viên, đã mất cá nhân tính. Xã hội học cũng chiêm nghiệm rằng trong lịch sử, các lực lượng đoàn thế đã xuất hiện trước các cá nhân.
b) Một phái học giả khác thiên vè tâm lý học, chủ trương rằng bản thể của người không phải ở phần thể xác mà chính là ở phần ý chí. Vì vậy, một đoàn thế khi có một ý chí cộng đồng phải được coi là một pháp nhân.
Tuy dựa vào các yếu tố xã hội hay tâm lý, các học thuyết này cũng không được xác đáng vì đã lầm lộn, không phân biệt hai quan niệm pháp nhân và đoàn thể hay tập thể xã hội.
Tất cả đoàn thể hay tập thể xã hội, tuy có một sự duy nhất về phương diện hữu cơ hay tâm lý, đều không bó buộc phải là một pháp nhân. Tuy đoàn thể hay tập thể nhiều khi có một ý chí cộng đồng như hội đồng gia tộc chẳng hạn thì cũng không phải là pháp nhân.
Vậy thì căn cứ vào tiêu chuẩn nào để phân biệt?
II. Học thuyết thừa nhận tính cách thực sự của pháp nhân trên phương diện chuyên môn
Học thuyết chủ trương rằng thực sự pháp lý không phải là một sự rọi hình trung thực của thực tại vật chất. Ví dụ: các thể nhân trong pháp luật thường được coi là những người thường trong xã hội, song sự thực chưa hẳn đơn giản như vậy. Ở các xã hội cổ chẳng hạn, những nô lệ tuy cũng là người mà không được coi là chủ thể của pháp luật, không được coi là có nhân cách. Ngày nay, trái lại, trong các vấn đề thừa kế chẳng hạn, các bào thai cũng được hưởng thừa kế như các người thừa kế đã sinh ra đời. Như vậy, nhân cách có thể quan niệm được ngoài mọi nòng cốt sinh lý hay điều kiện thể xác.
Vậy câu hỏi đặt ra ở đây sẽ là, điều kiện thiết yếu của nhân cách là gì?
Điều kiện ấy không phải là ý chí của đương sự vì người điện hay trẻ nhỏ tuy không có ý chí song vẫn có nhân cách.
Suy cho cùng, nhân cách là năng cách trở nên một chủ thể quyền lợi. Quyền lợi chủ quan vốn là quyền lợi được xã hội bảo vệ. Vậy, nhân vật trong pháp luật, có thể định nghĩa là một trung tâm, hay một nhóm quyền lợi được xã hội bảo vệ.
Nhưng các quyền lợi có thẻ được phân chia thành các quyền lợi cá nhân và quyền lợi cộng đồng. Sự phân loại này rất xác đáng, vì trong một xã hội chẳng hạn, quyền lợi cá nhân của hội viên muốn chia lãi ngay và chia cho thật nhiều, không phải là quyền lợi của hội xã cần phải trích một phần lãi để lưu trữ phòng sự chi tiêu bất ngờ.
Do sự phân biệt ra hai dạng quyền lợi, sẽ có sự phân biệt các nhân vật thành hai loại thể nhân và pháp nhân. Các thể nhân tương ứng với các quyền lợi cá nhân còn các pháp nhân tương ứng với các quyền lợi cộng đồng.
Nói khác đi, tất cả các quyền lợi cộng đồng biệt lập đối với các quyền lợi cá nhân cần phải có một pháp nhân làm chủ thể biệt lập với cá nhân. Các quyền lợi cộng đồng ấy cần phải được cụ thể hóa bằng những tổ chức hay những cơ quan để bảo vệ và hành xử các quyền lợi. Và khi ấy, ta sẽ đứng trước một thực tại mới, nhưng đây không phải là một thực tại thể chất, mà là một thực tại pháp lý, sở dĩ cấu kết được là nhờ ở lỷ luật pháp lý.
Học thuyết thừa nhận thực sự chuyên môn hay thực sự pháp lý này sẽ dẫn ta tới những hệ luận trái ngược của thuyết hư cấu:
1. Các pháp nhân là những thực sự: như vậy các pháp nhân không do quốc gia hay quyền lập pháp tạo lập ra được. Quốc gia chỉ chứng nhận và kiểm soát các pháp nhân ấy mà thôi;
2. Quốc gia cũng không thể tự ý tiêu diệt các pháp nhân được. Các pháp nhân sẽ tự giải tán khi đạt được mục đích hoặc được tồn tại mãi mãi;
3. Khi giải tán, các tài sản của pháp nhân sẽ được truyền thừa theo những quy tắc do pháp nhân đã ấn định trong điều lệ. Nếu điều lệ không ấn định điều này, các tài sản sẽ được truyền cho các pháp nhân theo đuổi mục đích tương ứng, chứ quốc gia không được thụ hưởng tài sản đó như các vật vô chủ.
Trích - Dân Luật Khái Luận của Giáo sư Vũ Văn Mẫu.
Có sự thêm bớt hoặc sửa lại đôi chút câu chữ để dễ hiểu và phù hợp với bản thân trong quá trình học. Nội dung và ý chính đều được giữ lại.
Việc đăng tải chỉ nhằm mục đích học tập mà không nhằm mục đích khác.

------------------------
Bạn có câu hỏi hay thắc mắc gì không? Đặt câu hỏi và chia sẻ với tôi ở tại phần bình luận ở phía dưới hoặc vui lòng gửi cho tôi tin nhắn!
Tôi sẽ trả lời bạn ngay khi có thể.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này